Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Giao Phối Giữa Mèo Và Rắn Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Like | Sonkemmiracleapo.com

Tại Sao Mèo Kêu Thảm Thiết Khi Giao Phối? Sự Khác Biệt Giữa Người Và Mèo Là Gì?

Sau Đẻ Bao Lâu Thì Cho Mèo Cái Phối Giống Tiếp?

Lý Do Mèo Vẫn Giao Phối Sau Khi Đã Triệt Sản

Tính Toán Thời Điểm Phối Giống Ở Mèo

Bật Mí Tất Cả Những Điều Bạn Nên Biết Về Phối Giống Chó

Phối Giống Chó Và Những Điều Cần Biết Khi Phối Giống Chó

Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, rất nhiều hạnh phúc và đau đớn đến từ những điều giữa hai giới. Sự tiến hóa của hành vi tình dục của con người cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của lịch sử loài người.

Hôm nay, chúng ta hãy nói về sự tiến hóa của hành vi tình dục của con người. Trước khi tìm hiểu bản thân, chúng ta hãy xem xét những vật nuôi mà chúng ta nuôi.

Thứ nhất: Tại sao mèo kêu thảm thiết khi giao phối?

Mèo kêu rất dữ dội khi giao phối

Hành vi tình dục của mèo quá xa lạ với con người, nhưng trên thực tế, nếu nhìn con người dưới góc độ của loài mèo, hành vi tình dục của con người là kỳ lạ nhất trên thế giới.

Tổ tiên của mèo nhà là mèo rừng

Có khoảng 5.600 loài động vật có vú khác nhau trên trái đất, đại đa số các loài động vật có vú không tạo thành một gia đình như con người để cùng nhau nuôi dạy con cái và chung sống một vợ một chồng, nhìn chung chúng là những “con độc thân”. Chỉ trong thời kỳ động dục, con cái và con đực mới gặp nhau, nói chung là con đực sẽ không nuôi con cái, con cái của động vật có vú về cơ bản là do con cái nuôi. Tất nhiên, có một số loài động vật có vú sống theo bầy đàn như sư tử, chó sói, tinh tinh,… nhưng ngay cả với những loài động vật có vú sống theo bầy đàn, con cái và con đực hiếm khi đi thành cặp và gặp nhau đơn lẻ, kể cả con đực và con cái. Sống thành bầy đàn, ở với nhau lâu năm nhưng con đực không biết con cái là ai, còn những loài thú sống thành đàn thường thể hiện tình cảm nơi công cộng.

Hành vi quan hệ tình dục của động vật cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của xã hội loài người, ví dụ, động vật do con người thuần hóa nói chung là động vật xã hội và có thể giao phối nơi công cộng. Động vật xấu hổ khi giao phối nơi công cộng, hoặc sống lâu năm. Những động vật như “chó độc thân” thường không thể thuần hóa được. Con người thuần hóa động vật đòi hỏi động vật phải sinh sản trong môi trường do con người nuôi dưỡng. Động vật xấu hổ khi giao phối nơi công cộng mặc dù có giá trị chăn nuôi nhưng thường không thể thuần hóa được.

Tổ tiên của loài chó là chó sói, tuy nhiên sức chiến đấu của loài chó sói lại yếu trong giới ăn thịt, thua kém sư tử, hổ và báo gêpa. Tại sao loài người lại thuần hóa loài chó không thay vì loài báo? Trong xã hội cổ đại, vô số quý tộc và người giàu có đã nuôi báo gêpa trong sân của riêng họ và cố gắng thuần hóa báo gêpa để săn bắn. Tuy nhiên, không có ngoại lệ, việc thuần hóa báo gêpa không thành công, nguyên nhân là do loài báo gêpa cần phải chạy đường dài trong thời gian tán tỉnh. Để theo đuổi một con báo gêpa cái, một số con báo gêpa đực thường phải đuổi theo vài ngày, chạy hàng chục km, thậm chí hàng trăm km trong một quãng đường dài trước khi báo gêpa cái có thể rụng trứng và giao phối với báo gêpa đực. Vì vậy, không thể nuôi nhốt báo gêpa, một khi nuôi nhốt báo gêpa sẽ mất khả năng sinh sản. So với loài báo gêpa, loài chó sẵn sàng giao phối nơi công cộng, nói chung, loài vật có thể thuần hóa cần đáp ứng một điều kiện, đó là: chúng có thể sinh sản trong môi trường do con người nuôi dưỡng.

Vào thế kỷ 19, con người nuôi báo gêpa

Báo gấm, sư tử, hổ, mèo đều thuộc họ mèo, mèo nhà thuộc họ nhà mèo cũng có những hành vi tình dục rất kỳ lạ, trong cuộc sống hàng ngày chúng ta vẫn thường nghe thấy tiếng kêu của mèo, thực ra đều là tiếng kêu của một con mèo cái khi giao phối. Tại sao tiếng kêu của con mèo lại dữ dội như vậy? Vì dương vật của mèo đực có nhiều gai giống như cái móc câu, những chiếc gai này giống như móng tay, trong quá trình giao phối chúng sẽ cào vào mèo cái. Mèo cái chỉ tiết ra hormone sau khi trải qua một vết xước đau đớn như vậy.Và như vậy là rụng trứng. Vì vậy, quá trình giao phối của mèo thực chất là quá trình mèo đực làm tổn thương mèo cái, mèo đực cần cắn chặt cổ mèo cái trong quá trình giao phối. Nếu không, mèo cái có thể tấn công mèo đực sau khi bị thương. Sau khi giao phối xong, mèo đực sẽ chạy thật nhanh để tránh mèo cái đánh mình. Từ góc độ này, mèo thực sự không thể được thuần hóa bởi con người, vì mèo rất khó sinh sản trong môi trường nuôi nhốt. Do đó, cho đến nay, con người vẫn chưa thuần hóa mèo hoàn toàn, và mèo luôn ở trạng thái bán hoang dã. Con người nuôi mèo vì muốn đuổi loài gặm nhấm như chuột. Sau khi con người phát minh ra nông nghiệp, họ bắt đầu trồng trọt và thu hoạch lúa, ngũ cốc. Một lượng lớn lùa, ngũ cốc chất thành đống trong kho, thu hút chuột đến kiếm ăn. Để xua đuổi chuột, con người đã thuần hóa mèo. Vì vậy, theo nghĩa rộng, việc thuần hóa mèo thực chất là để săn bắt, mà đối tượng săn bắt của mèo lại là chuột.

Phương pháp giao phối của mèo thoạt nghe rất lạ nhưng không hề lạ, mục đích của việc này là đảm bảo cho việc thụ thai thành công.

Tổ tiên của loài chó là chó sói là loài động vật xã hội, dễ thuần hóa

Các loài động vật trên trái đất về cơ bản đều đói và chưa thoát khỏi “chuẩn nghèo sinh học”, ngay cả những động vật ở đầu chuỗi thức ăn cũng thường bị đói, nếu không thoát khỏi “chuẩn nghèo sinh học” thì giao phối thực sự là một vấn đề. Giao phối lãng phí năng lượng, ảnh hưởng đến việc kiếm ăn và có thể khiến bạn bị các loài ăn thịt khác tấn công. Vì vậy, mục tiêu của giao phối là sinh sản ra con cái. Trên dương vật của mèo đực có nhiều gai giống như móc câu, khiến mèo cái rụng trứng sau khi bị đau, thực chất là để tiết kiệm sức lực và tăng tỷ lệ có thai của mèo cái, mèo cái sẽ không tốn sức cho việc giao phối. Vì vậy, mèo có thời kỳ động dục, giao phối vào một thời điểm nhất định, khi giao phối phải đạt được sự rụng trứng và thụ thai.

Thứ hai: Tại sao con người là động vật kỳ lạ nhất?

Sự kỳ lạ trong sinh sản của con người chủ yếu có ba điểm: Thứ nhất, trong xã hội loài người, nam và nữ duy trì mối quan hệ lâu dài và ổn định để cùng nhau nuôi dạy con cái; thứ hai, con người không có động dục, sự rụng trứng của con người là sự rụng trứng của gen lặn; Thứ ba, phụ nữ sẽ mãn kinh và mất khả năng sinh sản khi đến một độ tuổi nhất định, trong khi động vật nói chung có thể sinh con cho đến ngày chết vì già.

Mối quan hệ duy nhất giữa các giới tính của loài người thực chất là để con cái sinh sản tốt hơn, đối mặt với chọn lọc tự nhiên, mỗi loài đã phát triển các chiến lược sinh sản khác nhau. Con người là động vật có vú đi đứng và dung lượng não của con người lớn hơn đáng kể so với các loài động vật có vú khác. Sau khi con người đi thẳng, hông của phụ nữ trở nên hẹp hơn và chiều rộng của ống sinh bị hạn chế. Tuy nhiên, não người ngày càng lớn hơn. Kết quả là con người đã trở thành loài động vật duy nhất trên hành tinh gặp khó khăn trong việc sinh nở. Khi một loài động vật gặp khó khăn trong việc sinh nở, loài đó chắc chắn sẽ bị tuyệt chủng. Tại sao loài người không bị tuyệt chủng? Do việc đi thẳng đứng và sự mở rộng dung lượng não bộ đã mang lại lợi ích rất lớn cho con người nên ngay cả khi chứng loạn ly xảy ra, các cơ chế khác vẫn có thể được sử dụng để bù đắp cho khiếm khuyết này. Mối quan hệ độc đáo của con người giữa hai giới đã thực sự phát triển dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên.

Bào thai người hoàn toàn không có khả năng kiếm ăn sau khi được sinh ra, điều này hoàn toàn khác với mèo con, chó con và ngựa con, ngay sau khi sinh ra, ngựa con có thể đứng dậy và xoay người nhẹ. Mèo con và chó con sau khi sinh vài tuần, chúng có khả năng tự tìm kiếm thức ăn, tuy nhiên, con người không có khả năng tự tìm kiếm thức ăn trong vòng vài năm sau khi sinh. Lý do tại sao con người không có khả năng kiếm thức ăn trong vòng vài năm sau khi sinh là vì con người đều là trẻ sinh non. Nếu thai nhi đã phát triển đầy đủ và trưởng thành trong bụng mẹ thì không thể chào đời. Con người đã phát triển các bộ phận não bộ và cơ thể bên ngoài cơ thể, do đó, trong một thời gian dài sau khi sinh, thai nhi ăn ngủ, không có khả năng vận động. Chọn lọc tự nhiên có xu hướng chọn những bào thai sinh non. Theo thời gian, tất cả con người đều trở thành “trẻ sinh non”. Thời gian trung bình để con người mang thai là khoảng 280 ngày, chúng ta thường gọi là 9 tháng 10 ngày. Thời gian này thực tế Nó đã được nâng cao rất nhiều.

Hầu hết các loài động vật có vú không duy trì mối quan hệ ổn định lâu dài giữa con cái và con đực, và con đực sẽ không tự nuôi con của mình. Chúng thậm chí không biết mình đã sinh bao nhiêu con và con nào là con của chúng. Bởi vì con cái của chúng có khả năng tự kiếm ăn không lâu sau khi chúng được sinh ra, nên tốt hơn là tìm kiếm nhiều con cái hơn và truyền gen của chúng rộng rãi hơn là dành thời gian chăm sóc những đứa con mới chào đời của chúng. Do đó, động vật có vú đực thường không làm nhiệm vụ nuôi con. Bào thai người đều là “sinh non” nếu đàn ông, giống như các loài động vật có vú giống đực khác, sinh con và không nuôi, thì việc đầu tư di truyền của anh ta sẽ thất bại, vì đứa trẻ sẽ mất cha, nó sẽ chết sớm. Đối với con người, tốt hơn là nên tập trung vào một trong những khoản đầu tư này hơn là phát tán rộng rãi gen của họ, đây là lý do tại sao con người duy trì mối quan hệ lâu dài và ổn định giữa hai giới.

Khi con người vừa mới sinh ra, trẻ nhỏ không có khả năng di chuyển

Con người nuôi dạy con cái chỉ có sự tham gia của người cha là chưa đủ, các thành viên khác trong gia đình và hàng xóm cũng cần giúp đỡ, con người phải sống trong một cộng đồng xã hội. Điều này có nghĩa là phải duy trì một mối quan hệ ổn định lâu dài giữa hai giới tính của loài người, nhưng mọi người phải sống với nhau và sống một cuộc sống tập thể. Nếu con người đang trong thời kỳ động dục thì nam và nam không thể hợp tác. Vì vậy, cuộc sống của con người là rất độc đáo, hai giới tính của con người duy trì mối quan hệ ổn định lâu dài, đồng thời, họ cũng sống trong một cộng đồng lớn hơn. Đời sống nhóm cũng vậy. Con người khác với sư tử, sói và tinh tinh. Động vật sống theo nhóm thường là một con đực sở hữu nhiều con cái trong nhóm. Con đực không biết con mình là ai, nhưng con người thì biết con mình là ai, và hai giới duy trì mối quan hệ lâu dài, ổn định.

Thứ ba: Lựa chọn giới tính và sự tiến hóa của con người

Con người là sự rụng trứng lặn. Sự rụng trứng lặn có nghĩa là thời kỳ động dục biến mất, sau khi thời kỳ động dục biến mất, nó thực sự làm giảm tỷ lệ có thai, bởi vì nam giới không thể xác định khi nào phụ nữ có thể thụ thai. Con người ta chỉ có thể ở bên nhau mãi mãi. Đồng thời, sau khi thời kỳ động dục biến mất, phụ nữ phải duy trì sức hấp dẫn và có thể thu hút người đàn ông về phía mình lâu dài. Đây là một hiện tượng kỳ lạ. Hầu hết động vật là con đực trông đẹp hơn con cái, nhưng con người là một ngoại lệ. Con cái trông đẹp hơn con đực. Sư tử đực có bờm, công đực có cánh, voi đực có nanh, tất cả động vật là con cái đều chọn con đực, con đực được chú ý hơn. Tuy nhiên, con người lại là một ngoại lệ. Con người là con đực thường chú ý đến ngoại hình của con cái hơn. Quá trình tiến hóa giới tính độc đáo của loài người có thể đã định hình nên các đặc điểm thể chất của riêng họ. Ví dụ: vú của hầu hết các loài động vật có vú chỉ phồng lên rõ ràng trong thời kỳ cho con bú, trong khi vú của con người luôn căng phồng.

Trong xã hội loài người, phụ nữ luôn thể hiện vẻ đẹp

Tóm lại, mỗi loài có chiến lược sinh sản riêng, là kết quả của chọn lọc tự nhiên, và mục đích của nó là sinh ra những con cái tốt hơn. Vì vậy, khi chúng ta thấy động vật đang giao phối thì chúng ta không nên làm phiền, nhìn từ góc độ con người thì hành vi của chúng rất kỳ quặc, nhưng nếu nhìn con người dưới góc độ động vật thì con người là loài động vật kỳ lạ nhất trên thế giới.

Những Điềm Báo May Mắn Và Xui Xẻo Bạn Nhất Định Phải Biết

Nằm Mơ Thấy Chó Vào Nhà Là Điềm Báo Gì, Đánh Số Mấy?

Nằm Mơ Thấy Mèo Đánh Con Gì Có Tỷ Lệ Trúng Cao Nhất

10 Loài Động Vật Có Tập Tính Giao Phối Kì Lạ Trên Thế Giới

Mùa Giao Phối Của Chó Đực Và Dấu Hiệu Nhận Biết

Mùa Giao Phối Của Chó Đực Và Dấu Hiệu Nhận Biết

10 Loài Động Vật Có Tập Tính Giao Phối Kì Lạ Trên Thế Giới

Nằm Mơ Thấy Mèo Đánh Con Gì Có Tỷ Lệ Trúng Cao Nhất

Nằm Mơ Thấy Chó Vào Nhà Là Điềm Báo Gì, Đánh Số Mấy?

Những Điềm Báo May Mắn Và Xui Xẻo Bạn Nhất Định Phải Biết

Tại Sao Mèo Kêu Thảm Thiết Khi Giao Phối? Sự Khác Biệt Giữa Người Và Mèo Là Gì?

Mùa giao phối của chó đực là gì? Dấu hiệu nhận biết mùa giao phối của chó đực? Những phương pháp phối giống chó nào là thông dụng nhất hiện nay?

Trong thời kỳ này, những chú chó đực thường xuất hiện một số những thay đổi về tâm lý, thể trạng hay hành vi do sự gia tăng các hóc môn testosterone trong cơ thể.

Những chú chó đực khi bước vào mùa giao phối thông thường sẽ có những hành động khác lạ như: thực hiện những hành động mang tính khoe mẽ, thể hiện và rất phô trương.

Chúng sẽ biểu hiện rõ sự nam tính của mình qua thái độ mạnh mẽ, quyết đoán và hung hăng hơn khi đến thời kỳ này để thu hút chó cái.

Tùy vào từng hình dáng, kích thước và tầm vóc to nhỏ khác nhau mà những chú chó đực sẽ có thời gian lần đầu động dục khác nhau.

Thông thường, những giống chó có tầm vóc nhỏ bé thường bước vào mùa giao phối khi khoảng từ 5-10 tháng tuổi.

Những con đực có hình dáng lớn hơn thương bắt đầu muộn hơn và thường thường là khoảng từ 12 tháng tuổi.

Thông thường khi bước vào mùa giao phối, những chú chó đực sẽ tiếp nhận sự thay đổi hooc-môn trong cơ thể.

Do đó, chúng có thể xuất hiện sự hưng phấn, kích thích khi giao tiếp hay tiếp xúc với những chú chó cái.

Hơn thế nữa, dấu hiệu sẽ dễ dàng được nhận biết hơn khi chó đực không được gặp chó cái.

Chúng sẽ xuất hiện những dấu hiệu thay đổi trong tâm lý như: căng thẳng, bồn chồn, lo lắng, không thoải mái và thường hay rên rỉ.

Nếu như bạn đang không biết chú chó cưng của mình đã bước vào mùa giao phối hay chưa vậy hãy quan sát, theo dõi những hành động của chúng khi lại gần một chú chó cái.

Đây sẽ là cơ hội tốt để bạn có thể hiểu rõ hơn về thú cưng của mình.

Trong những tình huống như thế này, những chú chó đực thường sẽ trở nên hung hăng và dữ tợn hơn bình thường rất nhiều.

Chúng có thể gầm gừ, đấu đá và xô xát nhau để thể hiện bản thân, cạnh tranh và giành quyền lợi để được giao phối với chó cái.

Hầu như khi bước vào màu giao phối những chú chó đực thường xảy ra tình trạng dư thừa tinh dịch ở hầu hết các thời điểm trong ngày.

Dấu hiệu này được xem là một trong những dấu hiệu phổ biến nhất để nhìn nhận về mùa giao phối của chó đực.

Tuy nhiên, đây cũng là dấu hiệu đối với tình trạng khi chó đực mắc phải trạng thái khủng hoảng tình dục ở loài chó.

Do đó, để nhận biết một cách chính xác hơn bạn nên kết hợp quan sát, tìm hiểu và nghiên cứu nhiều dấu hiệu nhận biết khác nhau.

Tùy vào mục đích và nhu cầu để chọn lựa ra những phương pháp phối giống cho chó phù hợp nhất. Và sau đây là ba phương pháp phối giống cho chó thông dụng và được sử dụng rộng rãi nhất:

Trong phương pháp này, chúng ta có thể lai tạo và chọn lựa ra những gen tốt nhất từ những con chó cùng loài hay có huyết thống gần nhau.

Do đó, những chú chó con được sinh ra từ phương pháp này thường có sức đề kháng tốt, khỏe mạnh và không bị ảnh hưởng từ những căn bệnh di truyền.

Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là có nguy cơ phát sinh lỗi cao hơn so với thông thường.

Đây được xem là phương pháp tối ưu để lựa chọn ra những phẩm chất tốt đẹp nhất trong quá trình nhân giống cho những chú chó con.

Theo một số các nghiên cứu, những phương pháp này thường được sử dụng để có thể tạo ra những đặc điểm tốt nhất về mặt hình dáng, cơ thể và tính cách cho quá trình nhân giống.

Do đó, xét về mặt hiệu quả phương pháp này thường mang lại những kết quả tích cực. Chính vì thế, những phương pháp pháp phối giống cho chó này được khá nhiều người sử dụng.

Ưu điểm của những phương pháp lai tạo này là tạo ra những tính cách, đặc điểm, phẩm chất mới và nổi trội.

Cụ thể, trong phương pháp này chó bố và chó mẹ sẽ đóng vai trò ngang bằng nhau.

Do đó, chó con sẽ được nhận đồng đều về gen của cả bố và mẹ của chúng. Vì thế, những phương pháp này sẽ tạo ra những chú chó con có quỹ gen khá phong phú và có khả năng miễn dịch tốt hơn những chú chó thông thường.

Khác với hai phương pháp trên, phương pháp phối giống cho chó có huyết thống gần cần các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm tiến hành thực hiện.

Phương pháp này hỗ trợ cho việc phối giống và cho ra đời những chú chó con có đặc điểm gần với giống loài nhưng lại có tính đồng trội hơn.

Do đó, những chú chó con được sinh ra từ phương pháp này thường có khả năng thuần chủng cao.

Hơn thế nữa, phương pháp này có thể giúp các chuyên gia dự đoán được những đặc điểm hình dáng, tính cách, phẩm chất của những chú chó con sẽ được sinh ra.

Tuy nhiên, phương pháp nào cũng sẽ có ưu điểm đi kèm với những nhược điểm. Đầu tiên, phương pháp này có thể làm giảm đáng kể tính đa dạng của gen.

Bên cạnh đó, những chú chó con cũng sẽ có hệ miễn dịch khá kém và có khả năng là kém hơn cả thế hệ trước.

Trường hợp xấu hơn, nếu những chú chó con được sinh ra mang những loại gen đồng lặn có thể sẽ có sức khỏe rất yếu và khó để sinh sống và phát triển.

Do đó, phương pháp này thường không mang lại tỷ lệ sống sót của chó con được sinh ra cao như hai phương pháp kể trên.

Mùa Giao Phối Của Chó Nhận Biết Như Nào? Cách Phối Giống Cho Chó

Những Quy Tắc Cần Nhớ Trước Khi Muốn Phối Giống Cho Chó Mèo

Chó Và Mèo Có Thể Giao Phối?

Giải Đáp Câu Hỏi Mèo Mang Thai Mấy Tháng Mới Đẻ ?

Khoảng Bao Lâu Sau Khi Sinh Thì Mèo Lại Bước Vào Kì Động Dục Nữa?

Ghép Đôi Giao Phối Trong Chăn Nuôi Gia Súc

Mèo Chửa Mấy Tháng Thì Sinh Mèo Con?

Mèo Chửa Mấy Tháng? Tìm Hiểu Các Giai Đoạn Thai Kỳ Của Mèo

Khoảng Bao Lâu Sau Khi Sinh Thì Mèo Lại Bước Vào Kì Động Dục Nữa?

Giải Đáp Câu Hỏi Mèo Mang Thai Mấy Tháng Mới Đẻ ?

Chó Và Mèo Có Thể Giao Phối?

Ghép đôi giao phối hay chọn phối là chọn những con đực và con cái đã được chọn lọc để cho giao phối với nhau nhằm thu được đời con có được những tính trạng mong muốn theo mục tiêu nhân giống. Nếu biết chọn phối đúng đắn thì không những củng cố được mà còn có thể phát triển thêm những tính trạng và chất lượng mong muốn mà trước đó đã tiến hành chọn lọc.

– Xác định mục tiêu giống rõ ràng và tuân thủ phương pháp dự kiến để đạt mục tiêu đó thông qua nhân giống thuần hay lai tạo.

– Đực giống phải có ưu thế di truyền cao hơn so với con cái ghép đôi với nó.

– Tăng cường sử dụng những con xuất sắc.

– Củng cố di truyền ở đời sau những đặc điểm tốt có ở một hoặc hai bên bố mẹ.

– Cải tiến ở đời sau những đặc điểm không thoả mãn ở bố mẹ.

– Đưa vào đàn (dòng, giống) những đặc điểm mong muốn mới bằng cách sử dụng những con có những đặc tính mong muốn ở đàn cơ bản hay giống (dòng) khác.

– Điều khiển mức độ đồng huyết nhằm không cho phép suy thoái cận huyết.

– Phát hiện và sử dụng những phối hợp tốt nhất giữa những nhóm (về mặt di truyền) nào đó để ghép đôi lặp lại.

Trên cơ sở các cá thể đã được đánh giá và chọn lọc tiến hành ghép đôi từng cá thể đưc và cái cụ thể với nhau. Để thực hiện kiểu ghép đôi này cần phải biết roc đặc điểm cá thể, nguồn gốc, ngoại hình và sức sản xuất (giá trị giống) của mỗi con. Khi ghép đôi kiểu này phải xem xét đến những kết quả tích cực của việc chọn phối trước đó và kết quả đánh giá đực giống theo đời sau. Nói chung, ghép đôi cá thể đòi hỏi công phu và tỉ mỉ, nên thường chỉ được áp dụng ở các cơ sở giống.

– Ghép đôi theo nhóm

Đàn cái được chia thành các nhóm dựa vào kết quả bình tuyển và mỗi nhóm được phối giống với một nhóm đực giống có phẩm chất di truyền cao hơn. Phương pháp này thường được áp dụng với các vùng có áp dụng TTNT và trong các cơ sở chăn nuôi thương phẩm. Có thể phân biết ra hai loại ghếp đôi theo kiểu này:

+ Ghép đôi theo nhóm có phân biệt: Trong số đực giống của một nhóm có 1 con giữ vai trò chính còn những con khác đóng vai trò thay thế (dự trữ).

+ Ghép đôi theo nhóm đồng đều: Dùng 2-3 con đực giống tương tự về nguồn gốc và chất lượng giống cho ghép đôi với các nhóm cái. Phương pháp này có thể áp dụng để kiểm tra chất lượng di truyền của các đực giống.

Đàn cái được chia thành các nhóm theo nguồn gốc, đặc điểm thể hình và sức sản xuất. Mỗi nhóm cái được ghép đôi với 1 đực giống có chất lượng di truyền cao hơn. Phương pháp này thường được áp dụng ở các đàn giống và những vùng có TTNT.

3. Các hình thức chọn phối

Trong công tác giống Trâu bò người ta thường phối hợp các hình thức chọn phối sau đây để nhanh chóng đạt được mục tiêu nhân giống:

– Chọn phối theo huyết thống

Chọn phối theo huyết thống là căn cứ vào mức độ quan hệ huyết thống (thân thuộc) giữa các cá thể đực và cái để quyết định ghép đôi (hay không ghép đôi) giao phối với nhau. Có hai loại chọn phối dựa trên quan hệ huyết thống như sau:

+ Giao phối đồng huyết: Cho giao phối giữa những cá thể có quan hệ huyết thống với nhau (thường tính dưới 7 đời). Hình thức phối giống này cần được sử dụng thận trong và thường chỉ được dùng khi cần củng cố một vài đặc tính tốt nào đó (thường là mới xuất hiện), nhất là khi nhân giống theo dòng. Không nên áp dụng rộng rãi phương pháp này mà không có kiểm soát chặt chẽ vì dễ gây suy thoái cận huyết do làm tăng cơ hội đồng hợp tử của các gen lặn xấu.

+ Giao phối không đồng huyết: Cho ghép đôi những con đực và cái không có quan hệ huyết thống hay có nhưng đã quá 7 đời. Hình thức này nhằm tránh nguy cơ suy thoái cần huyết. Trong thực tiễn sản xuất cần theo dõi nguồn gốc cá thể để có thể kiểm tra được mối

quan hệ giữa đực (kể cả tinh khi TTNT) và cái giống trước khi phối giống nhằm đảm bảo giao phối không đồng huyết.

– Chọn phối theo phẩm chất

+ Chọn phối đồng chất: Cho ghép đôi những đực và cái giống có những phẩm chất tốt giống nhau (về thể hình và tính năng sản xuất). Chọn phối đồng chất nhằm duy trì ở đời sau tính đồng hình, tăng số lượng cá thể đời sau có kiểu hình và tính năng sản xuất mong muốn đã đạt được ở bố mẹ. Chọn phối đồng chất làm tăng tính ổn định di truyền và năng cao tiêu chuẩn của giống. Chọn phối đồng chất chủ yếu được áp dụng ở các đàn giống cao sản, đặc biệt là khi nhân giống theo dòng. Chọn phối đồng chất cũng có thể áp dụng trong lai giống nhằm tạo ra tính ổn định di truyền cho những tính trạng mong muốn.

+ Chọn phối dị chất: Cho giao phối giữa những con đực và cái khác biệt nhau rõ rệt về mặt ngoại hình và một số tính năng sản xuất. Nói cách khác là ghép đôi giao phối giữa những cá thể có những đặc tính tốt khác nhau. Mục đích là thu được ở đòi sau những cá thể tập hợp được nhiều đặc tính tốt từ cả hai phía bố và mẹ. Tuy nhiên, cần chú ý là không được ghép đôi những cá thể có các tính trạng đối lập nhau để hy vọng đời sau có được sự san bằng về tính trạng.

Phương Pháp Điều Trị Đái Tháo Đường Ở Mèo Hiệu Quả 99,9%

Tác Hại Của Phối Giống Cận Huyết

Bệnh Giảm Bạch Cầu Ở Mèo Và Cách Điều Trị

Bật Mí Với Bạn Về Cách Chữa Trị Bệnh Giảm Bạch Cầu Ở Mèo

Chẩn Đoán Và Điều Trị Bệnh Giảm Bạch Cầu (Fpv) Ở Mèo Hiệu Quả

Lý Do Mèo Vẫn Giao Phối Sau Khi Đã Triệt Sản

Tính Toán Thời Điểm Phối Giống Ở Mèo

Bật Mí Tất Cả Những Điều Bạn Nên Biết Về Phối Giống Chó

Phối Giống Chó Và Những Điều Cần Biết Khi Phối Giống Chó

Đẹp: Những Trận Đấu Trước Giao Phối Của Loài Ngựa

Tại Sao Mèo Trưởng Thành Vẫn Còn Giữ Thói Quen Xoa Bóp Bụng Giống Như Mèo Con?

[lwptoc]

Lý do mèo vẫn giao phối sau khi đã triệt sản đơn giản chỉ là “Như một thói quen”

Điều này chỉ là một thói quen khó bỏ của mèo. Trên thực tế, tùy vào thời điểm triệt sản cho mèo mà chúng có thể giữ thói quen hành động như đang giao phối sau khi đã triệt sản chúng. Các sen hãy coi hành vi này giống như thói quen có hành vi giơ chân ra nhào nặn bú ti mẹ ở những chú mèo đã trưởng thành mà thôi. Dù khá hoang mang nhưng hãy chấp nhận dần “Như một thói quen” là lý do mèo vẫn giao phối sau khi đã triệt sản

Có một sự thật là phẫu thuật triệt sản có thể trở thành tác động thôi thúc mèo nghĩ đến giao phối nhiều hơn. Không có gì lạ khi bạn nhìn thấy những con mèo đã được triệt sản vẫn cố gắng giao phối với một em mèo khác, nhất là mèo đực. Điều này thường xảy ra hơn ở những chú mèo đực đã được giao phối nhiều lần trước khi mèo được triệt sản. Chúng chỉ đang lặp lại thói quen của mình mà thôi. Những chú mèo đã giao phối rất nhiều lần trước khi được triệt sản. Vì vậy, để chúng sửa đổi hành vi này cần có thời gian nhất định.

“Trai tơ”, “Gái tơ” vẫn có động tác giao phối sau triệt sản như thường

Đối với những chú mèo chưa từng được giao phối, ham muốn tình dục của chúng vẫn tồn tại trong cơ thể, tuy là mèo chưa từng được thực hành nhưng chúng vẫn có những hành động rất chính xác. Lý do mèo vẫn giao phối sau khi đã triệt sản là ham muốn bẩm sinh bản năng có sẵn vẫn còn trong người dù công cụ đã bị tước đoạt hihi.

Bác sĩ thú y thường khuyên chủ nuôi tốt hơn nên triệt sản cho mèo trước khi chúng được giao phối lần đầu tiên. Vì khi chúng đã biết được cảm giác hạnh phúc với một bé mèo cái, chúng sẽ khó chấp nhận chuyện triệt sản hơn và như bạn thấy, chúng cần nhiều thời gian để bỏ đi thói quen này hơn những chú mèo còn “trai tân”.

Hãy cho chúng con thời gian

Giờ thì bạn đã biết lý do mèo vẫn giao phối sau khi đã triệt sản rồi. Bạn có thể yên tâm rằng sẽ không có chú mèo con nào được sinh ra khi mèo đực hoặc mèo cái đã được triệt sản. Điều chúng cần là thời gian để cân bằng mọi thứ và chấp nhận sự thật là chúng không còn khả năng sinh sản nữa.

Nguồn tham khảo : The Spruce Pets

Sau Đẻ Bao Lâu Thì Cho Mèo Cái Phối Giống Tiếp?

Tại Sao Mèo Kêu Thảm Thiết Khi Giao Phối? Sự Khác Biệt Giữa Người Và Mèo Là Gì?

Những Điềm Báo May Mắn Và Xui Xẻo Bạn Nhất Định Phải Biết

Nằm Mơ Thấy Chó Vào Nhà Là Điềm Báo Gì, Đánh Số Mấy?

Nằm Mơ Thấy Mèo Đánh Con Gì Có Tỷ Lệ Trúng Cao Nhất

🌟 Home
🌟 Top